Peter Thiel: cạnh tranh là dành cho kẻ thua cuộc

Bài giảng năm 2014 của Peter Thiel: độc quyền và cạnh tranh, lời nói dối về quy mô thị trường, bắt đầu nhỏ, last mover và tâm lý chạy theo đám đông.

Đã duyệt độc lập · cập nhật 02/11/2026 · 50 min

1. Một ý tưởng duy nhất: nhắm tới độc quyền, tránh cạnh tranh

Đây là bài giảng thứ 5 trong loạt How to Start a Startup năm 2014, do Peter Thiel trình bày và được kênh Y Combinator đăng lên ngày 22/03/2017. Màn hình mở đầu ghi Stanford Center for Professional Development, CS 183B, Autumn Quarter 2014 - 2015, và slide tiêu đề ghi "Competition is for losers" cùng ngày October 7, 2014.

Người dẫn lớp (Thiel gọi là Sam) giới thiệu: Peter là founder của PayPal, Palantir và Founders Fund, và đã đầu tư vào phần lớn các công ty công nghệ ở Silicon Valley (theo lời giới thiệu trong bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Hôm nay anh sẽ nói về chiến lược và cạnh tranh. Thiel cảm ơn Sam đã mời mình.

Peter Thiel mặc áo khoác đen có logo Palantir, đứng nói trước bảng trắng, góc phải có chữ Stanford University
Peter Thiel đứng trước bảng trắng của giảng đường khi bắt đầu bài giảng; góc phải hình có dòng chữ Stanford University (video đăng ngày 22/03/2017).

Thiel nói anh có một ý tưởng duy nhất mà anh hoàn toàn bị ám ảnh ở phía kinh doanh: nếu bạn đang khởi nghiệp, nếu bạn là founder, là người lập công ty, thì bạn luôn muốn nhắm tới độc quyền (monopoly) và luôn muốn tránh cạnh tranh (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Từ đó mà có câu "competition is for losers", cạnh tranh là dành cho kẻ thua cuộc, điều cả buổi sẽ bàn tới.

Anh muốn bắt đầu bằng ý tưởng cơ bản về cách tạo ra giá trị khi bạn lập một công ty như vậy. Câu hỏi là: điều gì làm một doanh nghiệp có giá trị? Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), về cơ bản có một công thức rất đơn giản: bạn có một công ty giá trị nếu hai điều cùng đúng. Thứ nhất, công ty tạo ra X đô la giá trị cho thế giới. Thứ hai, bạn giữ lại được Y phần trăm của X.

Điều then chốt mà anh nghĩ người ta luôn bỏ sót trong kiểu phân tích này là X và Y là hai biến hoàn toàn độc lập với nhau (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). X có thể rất lớn mà Y rất nhỏ. X có thể ở cỡ trung bình, và nếu Y khá lớn thì bạn vẫn có một doanh nghiệp rất lớn. Vậy để tạo ra một công ty có giá trị, về cơ bản bạn phải vừa tạo ra một thứ có giá trị, vừa giữ lại được một phần giá trị của thứ mình đã tạo ra.

2. Miếng lớn của một chiếc bánh nhỏ: hàng không Mỹ và Google

Để minh hoạ bằng một phép so sánh, Thiel đặt ngành hàng không Mỹ cạnh một công ty như Google ở mảng search. Nếu đo theo quy mô ngành, chẳng hạn theo doanh thu, bạn có thể nói hàng không vẫn quan trọng hơn search: anh nói doanh thu nội địa của hàng không là 195 tỷ đô la năm 2012, còn Google có hơn 50 tỷ một chút (số liệu năm 2012 theo bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Và ở một mức trực giác nào đó, nếu được chọn giữa việc bỏ hết đi lại bằng máy bay và bỏ khả năng dùng công cụ tìm kiếm, trực giác sẽ nói đi máy bay quan trọng hơn search. Đây mới là số nội địa. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), nếu nhìn ra toàn cầu thì hàng không lớn hơn search, hay lớn hơn Google, rất rất nhiều.

Slide Big piece of a small pie so sánh toàn bộ hãng hàng không Mỹ với Google năm 2012
Slide "Big piece of a small pie" (slide trong video đăng ngày 22/03/2017): bên trái, toàn bộ các hãng hàng không Mỹ cộng lại có doanh thu 2012 là 195,6 tỷ đô la, biên lợi nhuận 2012 là 0,2%, vốn hoá 112,4 tỷ đô la; bên phải, Google có doanh thu 2012 là 50,2 tỷ đô la, biên lợi nhuận 21,0%, vốn hoá 393,8 tỷ đô la.

Nhưng biên lợi nhuận của hàng không thấp hơn khá nhiều. Năm 2012 các hãng có lãi rất mỏng (theo Thiel, số liệu năm 2012 trong bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Anh nghĩ trong cả lịch sử khoảng 100 năm của ngành hàng không, lợi nhuận cộng dồn ở Mỹ xấp xỉ bằng không. Các công ty kiếm được tiền, rồi thỉnh thoảng phá sản, được tái cấp vốn, và cứ thế lặp lại.

Điều này hiện ra trong tổng vốn hoá thị trường: theo lời Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), vốn hoá của ngành hàng không Mỹ vào khoảng một phần tư của Google, còn slide ghi 112,4 tỷ so với 393,8 tỷ đô la. Vậy là bạn có một công cụ tìm kiếm nhỏ hơn đi lại bằng máy bay rất nhiều, nhưng giá trị lớn hơn rất nhiều. Anh nghĩ điều đó phản ánh những định giá rất khác nhau cho X và Y.

3. Cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền: hai loại doanh nghiệp

Thiel nói về thế giới cạnh tranh hoàn hảo (perfect competition), nơi có cả mặt được lẫn mặt chưa được. Ở mức tổng quát, đây là thứ bạn học trong Econ 1. Nó dễ mô hình hoá, và anh nghĩ đó là lý do các giáo sư kinh tế thích nói về cạnh tranh hoàn hảo. Theo anh (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), nó có hiệu quả theo một cách nào đó, nhất là trong một thế giới tĩnh, vì toàn bộ thặng dư tiêu dùng (consumer surplus) được mọi người chia nhau.

Về mặt chính trị, đó là điều xã hội nói với chúng ta là tốt: rằng ta muốn có cạnh tranh và cạnh tranh là một điều tốt. Dĩ nhiên cũng có nhiều mặt tiêu cực. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), nhìn chung sẽ không hay lắm nếu bạn dính vào thứ gì siêu cạnh tranh (hyper-competitive), vì bạn thường không kiếm được tiền. Anh nói sẽ quay lại điểm này sau.

Slide Perfect competition với hai cột pros và cons
Slide "Perfect competition" (slide trong video đăng ngày 22/03/2017): cột pros ghi easy to model, efficient in a static world, politically salable; cột cons ghi psychologically unhealthy, irrelevant in a dynamic world, preempts question of value.

Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), ở một đầu của dải phổ là các ngành cạnh tranh hoàn hảo, còn ở đầu kia là những thứ anh gọi là độc quyền. Đó là những doanh nghiệp ổn định hơn nhiều, dài hạn hơn, có nhiều vốn hơn. Và nếu bạn có được một độc quyền sáng tạo (creative monopoly) nhờ phát minh ra một thứ mới, anh nghĩ đó là dấu hiệu bạn đã tạo ra một thứ thật sự có giá trị.

Góc nhìn nhị phân cực đoan mà anh luôn nói ra là thế giới này có đúng hai loại doanh nghiệp: doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo và doanh nghiệp độc quyền, và ở giữa có ít tới mức đáng kinh ngạc (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Sự phân đôi này không được hiểu rõ, vì người ta liên tục nói dối về bản chất của doanh nghiệp mình đang làm.

Đó là lý do, trong đầu anh, đây là điều quan trọng nhất. Anh tự sửa lại: nó không hẳn là điều quan trọng nhất trong kinh doanh, nhưng anh nghĩ đó là ý tưởng kinh doanh quan trọng nhất mà người ta không hiểu: rằng chỉ có hai loại doanh nghiệp này (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

4. Những lời nói dối kéo hai đầu lại gần nhau

Thiel nói tiếp về những lời nói dối người ta hay kể. Hãy hình dung một dải phổ các công ty, từ cạnh tranh hoàn hảo tới độc quyền. Theo anh (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), khác biệt bề ngoài giữa hai đầu khá nhỏ, vì những ai có độc quyền đều giả vờ là mình không có. Lý do là bạn không muốn bị chính phủ điều tiết (regulate), không muốn chính phủ nhắm vào mình, nên bạn sẽ không bao giờ nói mình có độc quyền. Ai có độc quyền cũng sẽ giả vờ rằng mình đang ở giữa một cuộc cạnh tranh khốc liệt.

Ở đầu kia của dải phổ, nếu bạn ở trong một ngành cạnh tranh khốc liệt, một kiểu kinh doanh mà bạn sẽ không bao giờ kiếm được tiền, bạn sẽ bị cám dỗ kể một lời nói dối theo chiều ngược lại: bạn sẽ nói rằng mình đang làm một thứ độc nhất, bằng cách nào đó ít cạnh tranh hơn vẻ ngoài của nó, vì bạn muốn tạo khác biệt, muốn thu hút vốn hay đại loại thế (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Vậy nếu kẻ độc quyền giả vờ không độc quyền, và kẻ không độc quyền giả vờ có độc quyền, thì khác biệt bề ngoài rất nhỏ, trong khi khác biệt thật, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), thực ra khá lớn. Có một sự bóp méo xảy ra vì những lời nói dối người ta kể về doanh nghiệp của mình, và các lời nói dối đi theo hai chiều ngược nhau.

Bề ngoài (perceived): khác biệt nhỏ firm Afirm B perfect competitionmonopoly Thực tế (reality): khác biệt lớn firm Afirm B perfect competitionmonopoly
Hình 4.1Hai slide "Differences underestimated" trong video đăng ngày 22/03/2017: trên dải phổ từ perfect competition tới monopoly, hai công ty trông gần nhau (perceived: minor) nhưng thực ra nằm ở hai đầu (reality: major).

Anh đào sâu thêm vào cách các lời nói dối này vận hành. Lời nói dối cơ bản của một doanh nghiệp không độc quyền là "chúng tôi ở trong một thị trường rất nhỏ". Lời nói dối cơ bản của một doanh nghiệp độc quyền là "thị trường chúng tôi đang ở lớn hơn vẻ ngoài rất nhiều" (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Nếu nghĩ theo ngôn ngữ lý thuyết tập hợp, bạn có thể nói kẻ độc quyền kể một lời nói dối trong đó doanh nghiệp của mình là hợp (union) của những thị trường rất khác nhau, còn kẻ không độc quyền mô tả nó là giao (intersection) của chúng. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), nếu bạn không độc quyền, bạn sẽ dùng lời lẽ để mô tả thị trường của mình là siêu nhỏ, và bạn là người duy nhất trong thị trường đó. Nếu bạn có độc quyền, bạn sẽ mô tả nó là siêu lớn, với rất nhiều cạnh tranh bên trong.

5. Giao và hợp: nhà hàng Anh ở Palo Alto, phim Hollywood và startup ghép chữ

Thiel đưa vài ví dụ về cách điều này diễn ra trong thực tế. Anh nói anh luôn dùng nhà hàng làm ví dụ cho một ngành kinh doanh tồi tệ. Và đây luôn là ý của anh: chủ nghĩa tư bản (capitalism) và cạnh tranh là hai từ trái nghĩa. Tư bản là tích luỹ vốn. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), một thế giới cạnh tranh hoàn hảo là một thế giới nơi toàn bộ vốn bị cạnh tranh làm tiêu tan.

Slide Narratives so sánh non-monopolies và monopolies bằng sơ đồ giao và hợp của ba tập
Slide "Narratives" (slide trong video đăng ngày 22/03/2017): bên non-monopolies ghi "we're in a narrow market", relevant market là A ∩ B ∩ C, vùng giao nhỏ ở giữa ba vòng tròn; bên monopolies ghi "we're in a huge market", relevant market là A ∪ B ∪ C, cả ba vòng tròn gộp lại.

Giả sử bạn mở một nhà hàng. Không ai muốn đầu tư, vì bạn sẽ lỗ. Nên bạn phải kể một câu chuyện riêng biệt nào đó, đại loại: chúng tôi là nhà hàng món Anh duy nhất ở Palo Alto. Vậy là "Anh" giao với "Palo Alto". Dĩ nhiên, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), đó là một thị trường quá nhỏ, vì người ta có thể lái xe tới tận Mountain View, thậm chí Menlo Park. Và có lẽ không có ai ăn toàn món Anh, ít nhất là không ai như vậy còn sống. Đó là một thị trường hẹp một cách hư cấu.

Có một phiên bản Hollywood của chuyện này, theo cách các bộ phim luôn được pitch: kiểu như một ngôi sao bóng bầu dục đại học gia nhập một nhóm hacker tinh nhuệ để bắt con cá mập đã giết bạn mình. Anh xin lỗi một tiếng, rồi nói: đó là một bộ phim chưa ai làm. Nhưng câu hỏi là đó có phải đúng hạng mục không, hay hạng mục đúng chỉ là "thêm một bộ phim nữa", và loại đó thì có rất nhiều. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), làm phim siêu cạnh tranh, cực kỳ khó kiếm tiền, không ai kiếm được tiền ở Hollywood bằng làm phim, thật sự rất khó. Slide "Blockbuster movie" đặt ba hình cạnh nhau với chú thích College football star..., joins elite group of hackers..., ...to catch the shark that killed his friend, kèm áp phích phim Hackers và Jaws; slide tiếp theo, "Is the intersection valuable?", vẽ ba vòng tròn hometown hero, teen hackers và sharks giao nhau.

Nên theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), bạn luôn có câu hỏi: vùng giao này có thật không, có hợp lý không, có giá trị không, những câu ta nên hỏi.

Dĩ nhiên cũng có phiên bản startup của chuyện này. Ở những phiên bản thật sự tệ, bạn lấy một chuỗi buzzword, sharing, mobile, social, apps, ghép lại và có một câu chuyện nào đó (slide "Startup version" ghi Sharing. Mobile. Social. Apps. Sharing mobile social apps.). Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), dù đó có là một doanh nghiệp thật hay không, nhìn chung đây là một dấu hiệu xấu. Gần như một kiểu nhận diện mẫu: khi bạn gặp kiểu lời lẽ "vùng giao" này, nhìn chung nó không thành.

"Cái gì đó của nơi nào đó" (the something of somewhere) phần lớn thật ra là "chẳng là gì của chẳng nơi nào" (the nothing of nowhere). Thiel ví nó như "Stanford của North Dakota": độc nhất, nhưng không phải Stanford (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

6. Google kể mình thuộc thị trường nào

Giờ nhìn sang lời nói dối ngược lại. Thiel lấy ví dụ công ty search ở ngay cuối phố, có khoảng 66% thị phần, như anh nói, và hoàn toàn thống trị thị trường search (theo bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Slide "The seach market" là biểu đồ Search Engine Market Share tháng 2/2012 của Search Engine Watch, ghi Google 66,4%, Microsoft 15,3%, Yahoo 13,8%. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), Google gần như không bao giờ tự mô tả mình là một công cụ tìm kiếm vào thời điểm đó, mà mô tả mình theo đủ kiểu khác nhau.

Đôi khi Google nói mình là một công ty quảng cáo. Vì nếu là search, bạn sẽ nói: chà, thị phần khổng lồ thế này, thật điên rồ, đây là một độc quyền đáng kinh ngạc, một độc quyền vững hơn nhiều so với bất cứ thứ gì Microsoft từng có trong thập niên 90, có lẽ vì thế mà nó kiếm nhiều tiền đến vậy (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Nhưng nếu nói đó là thị trường quảng cáo, bạn có thể nói: quảng cáo search là 17 tỷ đô la, đó là một phần của quảng cáo online, thứ lớn hơn nhiều; rồi toàn bộ quảng cáo ở Mỹ còn lớn hơn; và tới quảng cáo toàn cầu thì gần 500 tỷ. Vậy là bạn đang nói về ba phẩy năm phần trăm, một phần bé tí của một thị trường lớn hơn nhiều (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Slide The advertising market vẽ các vòng tròn lồng nhau từ quảng cáo search Mỹ tới quảng cáo toàn cầu
Slide "The advertising market" (slide trong video đăng ngày 22/03/2017): các vòng lồng nhau ghi US search advertising $17B, US online advertising $37B, US advertising $150B và Global advertising $495B.

Hoặc nếu không muốn là công ty quảng cáo, bạn luôn có thể nói mình là công ty công nghệ. Thiel ngừng một chút, nói "xin lỗi, để tôi xem", rồi nói thị trường công nghệ vào khoảng một nghìn tỷ đô la; slide "The technology market" ghi Global consumer technology $964B, với chấm nhỏ US search advertising $17B ở mép, các mục automobiles, televisions, smartphones, social networks, infrastructure, và một câu của Eric Schmidt: "The Internet is incredibly competitive, and new forms of accessing information are being utilized every day." (slide trong video đăng ngày 22/03/2017).

Câu chuyện bạn kể, nếu bạn là Google trong thị trường công nghệ, theo cách Thiel diễn lại (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), là: chúng tôi cạnh tranh với mọi hãng xe hơi bằng xe tự lái; cạnh tranh với Apple ở TV và iPhone; cạnh tranh với Facebook; cạnh tranh với Microsoft ở bộ Office; cạnh tranh với Amazon ở dịch vụ cloud. Vậy là chúng tôi ở trong một thị trường công nghệ khổng lồ, nhìn hướng nào cũng có cạnh tranh, và không, chúng tôi không phải kẻ độc quyền mà chính phủ đang tìm, chúng tôi không nên bị điều tiết dưới bất cứ hình thức nào.

Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), ta luôn phải hết sức tỉnh táo rằng có những động lực rất mạnh để bóp méo bản chất của các thị trường này theo chiều này hay chiều kia.

7. Bằng chứng thị trường hẹp và cách xây độc quyền: bắt đầu nhỏ

Bằng chứng về thị trường hẹp trong ngành công nghệ, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), là nếu nhìn vào vài công ty công nghệ lớn như Apple, Google, Microsoft, Amazon (bốn cái tên trên slide "Evidence of narrow markets"), chúng cứ tích tiền mặt năm này qua năm khác, với biên lợi nhuận cực kỳ cao. Anh nói một trong những lý do ngành công nghệ Mỹ thành công đến vậy về tài chính là vì nó dễ sinh ra những doanh nghiệp giống độc quyền. Điều đó thể hiện ở việc các công ty này tích luỹ nhiều tiền mặt tới mức, quá một ngưỡng nào đó, chúng không biết làm gì với số tiền ấy.

Rồi anh nói vài điều về cách xây một độc quyền. Một trong những ý rất phản trực giác rút ra từ mạch độc quyền này là bạn nên nhắm vào thị trường nhỏ (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Nếu là startup, nếu đang lập công ty mới, bạn muốn đi tới độc quyền. Độc quyền là có thị phần lớn trong một thị trường. Làm sao có thị phần lớn? Bạn bắt đầu với một thị trường thật nhỏ và chiếm trọn thị trường đó. Rồi theo thời gian, bạn tìm cách mở rộng thị trường ấy theo những vòng tròn đồng tâm.

Điều luôn là sai lầm lớn, theo anh (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), là nhắm vào một thị trường khổng lồ ngay ngày đầu, vì đó thường là bằng chứng rằng bạn đã không định nghĩa các hạng mục cho đúng, và thường có nghĩa sẽ có quá nhiều cạnh tranh theo cách này hay cách khác. Anh nghĩ hầu như mọi công ty thành công ở Silicon Valley đều có một mô hình nào đó bắt đầu từ thị trường nhỏ rồi mở rộng.

thị trường nhỏ:chiếm trọn rồi mở rộng theo vòng tròn đồng tâm thị trường khổng lồ ngay ngày đầu quá nhiều đối thủ
Hình 7.1Cách xây độc quyền theo Thiel trong video đăng ngày 22/03/2017: bắt đầu nhỏ, chiếm trọn, mở rộng dần, thay vì nhắm vào một thị trường khổng lồ ngay ngày đầu.

8. Amazon, eBay, PayPal và Facebook đã bắt đầu nhỏ thế nào

Lấy Amazon làm ví dụ (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017): bạn bắt đầu với một hiệu sách thôi, "chúng tôi có mọi cuốn sách trên đời", nên đó là một hiệu sách tốt hơn bất cứ ai có trên thế giới khi nó khởi đầu vào thập niên 90. Nó online, có những thứ bạn làm được mà trước đó không làm được. Rồi dần dần bạn mở rộng sang đủ loại thương mại điện tử và những thứ khác xa hơn. Slide "Start small and expand" về Amazon có ảnh một hiệu sách, một nhà kho đầy thùng hàng và câu của Jeff Bezos: "We believe there's a tremendous opportunity ahead across the $5 trillion retail market globally."

eBay thì bắt đầu với hộp kẹo Pez, chuyển sang thú nhồi bông Beanie Babies, và cuối cùng là đủ loại đấu giá cho đủ loại hàng hoá khác nhau (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Điều rất phản trực giác ở nhiều công ty như vậy là chúng thường bắt đầu với những thị trường nhỏ tới mức lúc khởi đầu người ta không nghĩ chúng có chút giá trị nào.

Phiên bản PayPal: Thiel kể anh và nhóm bắt đầu với các power seller trên eBay, khoảng 20.000 người (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Lần đầu thấy điều này xảy ra vào tháng 12/1999, tháng 1/2000, ngay sau khi ra mắt, cảm giác là đây toàn là một thị trường quá nhỏ, thật tệ. Anh và nhóm nghĩ đây là những khách hàng tệ hại, chỉ là những người bán đồ lặt vặt trên Internet, tại sao lại đi theo thị trường này? Nhưng có một cách để làm ra một sản phẩm tốt hơn nhiều cho tất cả mọi người trong thị trường đó.

Anh và nhóm đạt mức thâm nhập thị trường khoảng 25%, 30% trong hai hay ba tháng, có được nhận diện thương hiệu (brand recognition), và từ đó có thể xây doanh nghiệp (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Nên anh luôn nghĩ những thị trường rất nhỏ này bị đánh giá thấp khá nhiều.

Slide Start small and expand về PayPal, bên trái huy hiệu eBay Power Seller, bên phải điện thoại mở trang PayPal
Slide "Start small and expand" về PayPal (slide trong video đăng ngày 22/03/2017): cột THEN là huy hiệu eBay Power Seller; cột NOW là điện thoại mở trang đăng nhập PayPal, kèm hai dòng 148mm active accounts và "$1 in $6 spent on e-commerce globally is spent with PayPal".

Phiên bản Facebook mà anh luôn kể: thị trường ban đầu của Facebook là 10.000 người ở Harvard, và nó đi từ 0% lên 60% thị phần trong 10 ngày (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Một khởi đầu rất tốt lành.

Cách các trường kinh doanh phân tích chuyện này, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), luôn là: thật vô lý, thị trường nhỏ thế thì không thể có chút giá trị nào. Nên anh nghĩ phân tích kiểu business school về Facebook thuở đầu, PayPal thuở đầu hay eBay thuở đầu là các thị trường có lẽ nhỏ tới mức gần như không có giá trị. Và chúng đã có ít giá trị thật nếu cứ nhỏ mãi, nhưng hoá ra có những cách để mở rộng chúng theo vòng đồng tâm, và đó là điều làm chúng có giá trị lớn đến vậy.

9. Bắt đầu lớn rồi co lại: bài học clean tech

Phiên bản ngược lại, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), là khi bạn có những thị trường siêu lớn. Có rất nhiều thứ đã hỏng với các công ty clean tech trong thập kỷ trước đó, nhưng một chủ đề chạy qua gần như tất cả là chúng đều bắt đầu với những thị trường khổng lồ. Mọi bản trình bày PowerPoint về clean tech mà người ta thấy trong các năm 2005 tới 2008, giai đoạn anh gọi là bong bóng clean tech ở Silicon Valley, đều bắt đầu bằng "chúng tôi ở trong thị trường năng lượng", một thị trường được đo bằng hàng trăm tỷ hay hàng nghìn tỷ đô la.

Slide Start big and shrink với logo Solyndra, Better Place, Q.Cells, Evergreen Solar, SpectraWatt và MiaSolé
Slide "Start big and shrink" (slide trong video đăng ngày 22/03/2017) xếp logo của sáu công ty clean tech: Solyndra, Better Place, Q.Cells, Evergreen Solar, SpectraWatt và MiaSolé.

Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), một khi bạn là con cá nhỏ trong đại dương mênh mông thì đó không phải chỗ tốt để ở. Nó có nghĩa là bạn có vô số đối thủ và bạn thậm chí không biết hết đối thủ là ai. Bạn muốn là một công ty độc nhất, công ty duy nhất trong một hệ sinh thái nhỏ. Bạn không muốn là công ty thức ăn cho thú cưng online thứ tư, không muốn là công ty pin mặt trời màng mỏng (thin film solar panel) thứ mười, không muốn là nhà hàng thứ một trăm ở Palo Alto.

Ngành nhà hàng là một ngành nghìn tỷ đô la (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), nên nếu làm phân tích quy mô thị trường, bạn sẽ kết luận nhà hàng là một ngành tuyệt vời để nhảy vào. Theo anh, thị trường lớn, những thị trường lớn đang có sẵn, thường có nghĩa là bạn có vô số cạnh tranh và rất, rất khó tạo khác biệt.

Vậy ý rất phản trực giác đầu tiên, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), là nhắm vào thị trường nhỏ, thường là thị trường nhỏ tới mức người ta thậm chí không để ý, không nghĩ chúng hợp lý. Đó là nơi bạn có chỗ đứng. Rồi nếu những thị trường đó mở rộng được, bạn có thể scale lên thành một doanh nghiệp độc quyền lớn.

10. Các đặc điểm của một doanh nghiệp độc quyền

Thiel nói có vài đặc điểm khác nhau của các doanh nghiệp độc quyền mà anh thích tập trung vào, và có lẽ không có một công thức duy nhất nào. Anh luôn nghĩ trong công nghệ có một cảm giác rằng lịch sử công nghệ là thứ mà mỗi khoảnh khắc chỉ xảy ra một lần (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Mark Zuckerberg tiếp theo sẽ không xây một mạng xã hội. Larry Page tiếp theo sẽ không xây một công cụ tìm kiếm. Bill Gates tiếp theo sẽ không xây một hệ điều hành. Nếu bạn sao chép những người này, bạn không học được gì từ họ. Những doanh nghiệp rất độc nhất, làm một thứ chưa ai làm, mới là những nơi có tiềm năng trở thành độc quyền.

Câu mở đầu của Anna Karenina là: mọi gia đình hạnh phúc đều giống nhau, mỗi gia đình bất hạnh lại bất hạnh theo cách riêng của mình. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), trong kinh doanh thì điều ngược lại mới đúng: mọi công ty hạnh phúc đều khác nhau, vì chúng làm một thứ rất độc nhất; mọi công ty bất hạnh đều giống nhau, vì chúng không thoát được sự giống nhau cốt lõi, thứ chính là cạnh tranh.

Slide Characterisitics of monopoly liệt kê bốn đặc điểm
Slide "Characterisitics of monopoly" (slide trong video đăng ngày 22/03/2017) liệt kê bốn đặc điểm: proprietary technology, network effects, economies of scale, branding.

Một đặc điểm của một công ty công nghệ độc quyền là một loại công nghệ độc quyền (proprietary technology) nào đó. Quy tắc ngón tay cái hơi điên rồ, khá tuỳ tiện của Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017) là bạn muốn có một công nghệ tốt hơn thứ tốt nhì kế tiếp một bậc độ lớn (order of magnitude). Amazon có số đầu sách nhiều hơn 10 lần. Anh nói có thể nó không công nghệ cao lắm, nhưng bạn tìm ra cách bán gấp 10 lần số đầu sách theo một cách online hiệu quả.

Với PayPal, cách thay thế là dùng séc để gửi tiền trên eBay, mất bảy tới mười ngày mới thanh toán xong. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), PayPal làm được nhanh hơn, hơn mười lần. Vậy bạn muốn có một cải tiến rất mạnh, có thể là một cải tiến một bậc độ lớn trên một chiều then chốt nào đó. Dĩ nhiên, nếu bạn mang tới một thứ hoàn toàn mới, đó giống như một cải tiến vô hạn. Anh nói iPhone là chiếc smartphone đầu tiên chạy được, nên có lẽ không phải vô hạn, nhưng chắc chắn là một cải tiến một bậc độ lớn hoặc hơn (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Công nghệ được thiết kế để cho bạn một khoảng cách lớn (massive delta) so với thứ tốt nhì kế tiếp.

Tiếp theo, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), thường có những network effect có thể khởi động và giúp ích thật sự, và chúng dẫn tới độc quyền theo thời gian. Điều rất khó với network effect là chúng thường rất khó khởi động. Nên dù ai cũng hiểu chúng giá trị thế nào, luôn có một câu hỏi cực kỳ khó: tại sao nó có giá trị với người đầu tiên làm điều đó?

Rồi tới lợi thế kinh tế theo quy mô (economies of scale): theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), nếu bạn có thứ gì đó với chi phí cố định rất cao và chi phí biên rất thấp, đó thường là một doanh nghiệp giống độc quyền.

Và rồi có chuyện thương hiệu (branding), kiểu như một ý tưởng mắc lại trong đầu người ta. Thiel nói anh chưa bao giờ thật hiểu thương hiệu vận hành thế nào, nên anh không bao giờ đầu tư vào công ty mà mọi thứ chỉ xoay quanh thương hiệu; nhưng anh nghĩ đó là một hiện tượng có thật, tạo ra giá trị thật (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Anh nói sẽ quay lại điều này gần cuối, nhưng một trong những điều rất nổi bật là các doanh nghiệp phần mềm, vì lý do nào đó, thường rất giỏi ở vài điểm trong số này (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Chúng đặc biệt giỏi ở phần lợi thế quy mô, vì chi phí biên của phần mềm bằng không. Nếu bạn làm ra thứ gì chạy được bằng phần mềm, nó thường tốt hơn đáng kể so với giải pháp đang có, rồi bạn có lợi thế quy mô rất lớn và có thể scale khá nhanh. Nên dù thị trường khởi đầu nhỏ, bạn có thể tăng trưởng đủ nhanh để giữ cùng tỷ lệ với thị trường đang lớn lên và duy trì sức mạnh kiểu độc quyền.

11. Last mover và giá trị nằm ở tương lai xa

Điều then chốt với các độc quyền này, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), là có độc quyền trong một khoảnh khắc thì chưa đủ; điều then chốt là có một độc quyền kéo dài theo thời gian. Silicon Valley luôn có ý tưởng rằng bạn muốn là người đi đầu (first mover). Anh luôn nghĩ, theo một số nghĩa, cách đặt vấn đề tốt hơn là bạn muốn là người đi sau cùng (last mover), công ty cuối cùng trong một hạng mục. Đó mới là những công ty thật sự có giá trị.

Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), Microsoft là hệ điều hành cuối cùng, ít nhất trong nhiều thập kỷ. Google là công cụ tìm kiếm cuối cùng. Facebook sẽ có giá trị nếu hoá ra nó là trang mạng xã hội cuối cùng.

Một cách nghĩ về giá trị của last mover là ý tưởng rằng phần lớn giá trị của các công ty này nằm ở tương lai xa. Nếu bạn làm phân tích dòng tiền chiết khấu (discounted cash flow) cho một doanh nghiệp, bạn có các dòng lợi nhuận, có một tốc độ tăng trưởng, và tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều so với tỷ lệ chiết khấu, nên phần lớn giá trị nằm ở tương lai xa (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Thiel kể anh đã làm bài tập này ở PayPal vào tháng 3/2001. Khi đó công ty đã hoạt động khoảng 27 tháng, tốc độ tăng trưởng là 100% một năm, và anh và nhóm chiết khấu dòng tiền tương lai khoảng 30%. Hoá ra khoảng ba phần tư giá trị của doanh nghiệp tính tại năm 2001 tới từ dòng tiền của các năm 2011 trở đi (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Slide Value of the future, biểu đồ cột dòng tiền chiết khấu chia hai giai đoạn Growth và Durability
Slide "Value of the future" (slide trong video đăng ngày 22/03/2017): biểu đồ cột Discounted Cash Flows; phần GROWTH (growth rate > discount rate) ở thập niên 2010 ghi 10-25%, easy to measure, shorter time horizon; phần DURABILITY (growth rate < discount rate) ở thập niên 2020, 2030 ghi 75-90%, hard to measure, longer time horizon.

Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), bất cứ khi nào làm phép tính cho một công ty công nghệ như vậy, bạn đều ra một đáp án đại loại như thế. Nếu bạn phân tích bất kỳ công ty công nghệ nào ở Silicon Valley, Airbnb, Twitter, Facebook, bất kỳ công ty Internet mới nổi nào, tất cả các công ty trong Y Combinator, phép tính cho bạn biết ba phần tư, 85% giá trị tới từ dòng tiền của các năm 2024 trở đi. Rất, rất xa trong tương lai.

Vì vậy, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), một trong những thứ Silicon Valley luôn đánh giá quá cao là tốc độ tăng trưởng, và đánh giá thấp độ bền (durability), vì tăng trưởng là thứ bạn đo được ngay bây giờ và luôn theo dõi được rất chính xác. Còn câu hỏi một công ty có còn tồn tại một thập kỷ nữa không, đó thực ra mới là thứ chi phối phương trình giá trị, và nó là một thứ định tính hơn nhiều.

12. Mỗi đặc điểm có một chiều thời gian

Quay lại các đặc điểm của độc quyền, công nghệ độc quyền, network effect, lợi thế quy mô: theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), bạn có thể nghĩ về chúng như những đặc điểm tồn tại ở một thời điểm, khi bạn chiếm một thị trường và thâu tóm nó. Nhưng bạn cũng muốn nghĩ: những thứ này có kéo dài theo thời gian không? Mọi đặc điểm này đều có một chiều thời gian.

Network effect thường có một yếu tố thời gian rất tốt: khi mạng lưới lớn lên, network effect thực ra càng vững hơn. Nên nếu bạn có một doanh nghiệp dựa trên network effect, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), đó thường là doanh nghiệp có thể trở thành một độc quyền lớn hơn và mạnh hơn theo thời gian.

Công nghệ độc quyền luôn hơi khó. Bạn muốn một thứ tốt hơn mức đỉnh của thế giới hôm nay một bậc độ lớn; đó là cách bạn thu hút sự chú ý, cách bạn đột phá lúc đầu. Nhưng sau đó bạn không muốn bị người khác vượt mặt (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Có cả những lĩnh vực đổi mới với rất nhiều đổi mới mà không ai kiếm được tiền.

Ví dụ của Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017) là sản xuất ổ đĩa (disc drive) trong thập niên 1980. Bạn có thể làm ra một ổ đĩa tốt hơn bất kỳ ai, chiếm cả thế giới, rồi hai năm sau người khác tới và thay thế ổ đĩa của bạn. Trong 15 năm, ổ đĩa được cải tiến vượt bậc. Điều đó mang lại lợi ích lớn cho người tiêu dùng, nhưng thực ra không giúp gì những người lập ra các công ty ấy.

Nên theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), luôn có câu hỏi: có một đột phá công nghệ lớn, nhưng rồi bạn cũng phải giải thích được vì sao đột phá của mình sẽ là đột phá cuối cùng, hoặc ít nhất là đột phá cuối cùng trong một thời gian dài. Hoặc bạn sẽ tạo ra một đột phá rồi liên tục cải tiến nó với tốc độ đủ nhanh để không ai đuổi kịp.

Nếu bạn có một cấu trúc tương lai với rất nhiều đổi mới, nơi người khác sẽ nghĩ ra những thứ mới trong chính lĩnh vực bạn đang làm, thì điều đó tuyệt cho xã hội, nhưng theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), thực ra thường không tốt lắm cho doanh nghiệp của bạn. Còn lợi thế quy mô thì anh đã nói rồi.

First mover người cầm quân trắng lợi thế khoảng một phần ba con tốt Last mover người thắng ván cờ "You must begin by studying the end game" câu hỏi: vì sao công ty này vẫn dẫn đầu sau 10, 15, 20 năm?
Hình 12.1Phép so sánh cờ vua Thiel dùng trong video đăng ngày 22/03/2017: đi trước cho một lợi thế nhỏ, điều đáng giá là người đi nước cuối và thắng ván.

Thiel nói anh nghĩ chuyện last mover này rất then chốt. Anh luôn bị cám dỗ, dù không muốn lạm dụng các phép so sánh cờ vua: người đi trước trong cờ vua là người cầm quân trắng. Quân trắng có lợi thế khoảng một phần ba con tốt, nên đi trước có một lợi thế nhỏ (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Bạn muốn là người đi sau cùng và thắng ván. Có câu nói của nhà vô địch cờ vua thế giới Capablanca: "You must begin by studying the end game", bạn phải bắt đầu bằng việc học tàn cuộc.

Anh nói anh không cho rằng đó là thứ duy nhất bạn nên học. Nhưng theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), góc nhìn đặt ra những câu hỏi như "vì sao đây vẫn sẽ là công ty dẫn đầu sau 10, 15, 20 năm nữa" là một góc nhìn thật sự then chốt để cố nghĩ cho thấu.

13. Lịch sử đổi mới nhìn qua X và Y

Thiel muốn đi theo hai hướng hơi khác với ý độc quyền và cạnh tranh này. Anh nói với anh đây là ý tưởng trung tâm trong kinh doanh, trong việc khởi nghiệp và cách nghĩ về chúng (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Anh nghĩ nó cho những góc nhìn rất thú vị về toàn bộ lịch sử đổi mới, công nghệ và khoa học.

Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), ta đã sống qua 250, 300 năm tiến bộ công nghệ đáng kinh ngạc trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau: từ động cơ hơi nước tới đường sắt, điện thoại, làm lạnh, đồ gia dụng, cuộc cách mạng máy tính, hàng không, đủ loại đổi mới công nghệ. Và có một điều tương tự có thể nói về khoa học: ta đã sống qua nhiều thế kỷ với vô số đổi mới trong khoa học.

Slide Technological innovation, trục thời gian thế kỷ 18 tới 21 với các mốc phát minh
Slide "Technological innovation" (slide trong video đăng ngày 22/03/2017): trục thời gian từ thế kỷ 18 tới 21, với các mốc như 1712 Steam engine, 1764 Spinning jenny, 1804 Railway locomotive, 1876 Telephone, 1903 Airplane, 1947 Transistor, 1971 Microprocessor, 1991 World Wide Web, và ở thế kỷ 21 là 2004 Facebook, 2007 iPhone, 2012 Tesla Model S.

Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), điều người ta luôn bỏ sót khi nghĩ về những chuyện này là vì X và Y là hai biến độc lập, một số thứ có thể là những đổi mới cực kỳ giá trị, nhưng người phát minh ra chúng không được tưởng thưởng. Quay lại công thức tạo ra X đô la giá trị và giữ Y phần trăm của X, anh cho rằng lịch sử khoa học nhìn chung là một lịch sử mà Y bằng 0% trên mọi mặt. Các nhà khoa học không bao giờ kiếm được tiền.

Họ luôn ảo tưởng rằng mình sống trong một vũ trụ công bằng sẽ tưởng thưởng họ cho công việc và phát minh của họ. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), đây có lẽ là ảo tưởng nền tảng mà các nhà khoa học hay mắc phải trong xã hội. Và ngay cả trong công nghệ, có nhiều lĩnh vực mà những đổi mới lớn đã tạo ra giá trị rất lớn cho xã hội, nhưng người làm ra chúng thực ra không giữ lại được bao nhiêu. Anh nghĩ có thể kể cả một lịch sử khoa học và công nghệ từ góc nhìn đã giữ lại được bao nhiêu giá trị, và chắc chắn có những lĩnh vực mà người ta không giữ lại được gì.

Ví dụ của Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017): bạn là nhà vật lý thông minh nhất thế kỷ 20, bạn nghĩ ra thuyết tương đối hẹp, rồi thuyết tương đối rộng, nhưng bạn không thành tỷ phú, thậm chí không thành triệu phú; nó cứ không vận hành theo cách đó. Đường sắt cực kỳ giá trị, nhưng phần lớn các công ty đường sắt phá sản vì có quá nhiều cạnh tranh. Anh em nhà Wright, bạn bay chiếc máy bay đầu tiên, bạn không kiếm được đồng nào. Slide "Capturing value" ghi lại công thức "A business creates X dollars of value and captures Y% of X. X and Y are independent variables", kèm ảnh Einstein, một đầu máy hơi nước và một chiếc máy bay đời đầu.

Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), có một cấu trúc của các ngành này rất quan trọng, và điều thực ra hiếm hoi là các trường hợp thành công. Khi nghĩ thật kỹ về lịch sử trong suốt 250 năm, Y gần như luôn bằng 0%. Trong khoa học thì luôn bằng không. Trong công nghệ thì gần như luôn bằng không. Nên rất hiếm khi người ta kiếm được tiền.

Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất là các nhà máy dệt. Có động cơ hơi nước, người ta tự động hoá nhiều thứ, và có những cải tiến không ngừng: hiệu suất của nhà máy dệt, và của sản xuất nói chung, tăng 5% tới 7% mỗi năm, năm này qua năm khác, thập kỷ này qua thập kỷ khác. Có 60, 70 năm cải tiến vượt bậc, từ 1780 tới 1850. Nhưng theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), ngay cả năm 1850, phần lớn của cải ở Anh vẫn nằm trong tay giới quý tộc địa chủ. Công nhân không kiếm được bao nhiêu, nhà tư bản cũng không. Tất cả bị cạnh tranh làm tiêu tan. Có hàng trăm người điều hành nhà máy dệt, và cấu trúc cạnh tranh của ngành đã ngăn không ai kiếm được tiền.

14. Hai kiểu thành công trong 250 năm và hai kiểu biện minh

Trong đầu Thiel, có lẽ có đúng hai nhóm lớn trong toàn bộ lịch sử 250 năm qua mà người ta vừa nghĩ ra thứ mới vừa kiếm được tiền từ đó (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Slide Success cases với hai nhóm Vertically integrated complex monopolies và Software
Slide "Success cases" (slide trong video đăng ngày 22/03/2017): Vertically integrated complex monopolies (Ford, Standard Oil, Tesla, SpaceX) và Software (economies of scale, low marginal cost, high adoption rate).

Nhóm thứ nhất là các độc quyền phức tạp tích hợp theo chiều dọc (vertically integrated complex monopolies), thứ người ta đã xây trong cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai, cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20: Ford, các công ty dầu tích hợp theo chiều dọc như Standard Oil. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), những độc quyền tích hợp dọc này thường đòi hỏi một sự phối hợp rất phức tạp: bạn có rất nhiều mảnh phải khớp với nhau theo đúng cách, và khi lắp xong, bạn có một lợi thế rất lớn. Ngày nay điều này được làm ít một cách đáng ngạc nhiên.

Anh nghĩ đây là một hình thức kinh doanh rất có giá trị khi người ta làm được, và thường khá tốn vốn (capital intensive). Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), ta sống trong một nền văn hoá mà rất khó khiến người ta tin vào bất cứ thứ gì siêu phức tạp và mất rất lâu để xây.

Nhưng khi nghĩ về thành công của Elon Musk, đồng nghiệp của anh từ thời PayPal, với Tesla và SpaceX, Thiel nghĩ chìa khoá của các công ty đó là cấu trúc độc quyền phức tạp, tích hợp theo chiều dọc (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Nếu hỏi Tesla hay SpaceX có một đột phá đơn lẻ nào không: chắc chắn họ đã đổi mới trên rất nhiều chiều, nhưng anh không nghĩ có một đột phá 10x đơn lẻ nào về lưu trữ pin, và có thể họ đang làm vài thứ về tên lửa, nhưng không có một đột phá khổng lồ đơn lẻ nào. Điều thật sự ấn tượng là ghép tất cả các mảnh lại với nhau, theo một cách tích hợp dọc hơn phần lớn đối thủ.

Với Tesla, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), bạn tích hợp luôn cả các nhà phân phối xe để họ không lấy hết tiền, như đã xảy ra với phần còn lại của ngành xe hơi ở Mỹ. Với SpaceX, về cơ bản bạn kéo hết các nhà thầu phụ vào trong, trong khi phần lớn các công ty hàng không vũ trụ lớn có những nhà thầu phụ độc quyền nguồn cung (single-source) có thể đòi lợi nhuận độc quyền và khiến các công ty hàng không vũ trụ tích hợp rất khó kiếm tiền. Anh nghĩ tích hợp dọc là một phương thức tiến bộ công nghệ rất ít được khám phá, mà người ta nên xem xét nhiều hơn.

Nhóm thứ hai: theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), có điều gì đó ở bản thân phần mềm rất, rất mạnh. Phần mềm có lợi thế quy mô đáng kinh ngạc, chi phí biên thấp. Và có điều gì đó ở thế giới của bit, khác với thế giới của nguyên tử, nơi bạn thường có được tốc độ chấp nhận (adoption) rất nhanh. Chấp nhận nhanh là then chốt để chiếm và thâu tóm thị trường, vì ngay cả khi bạn có một thị trường nhỏ, nếu tốc độ chấp nhận quá chậm, người khác sẽ có đủ thời gian để nhảy vào thị trường đó và cạnh tranh với bạn. Anh so với trường hợp thị trường nhỏ tới vừa mà tốc độ chấp nhận nhanh, và nói đây là một trong những lý do Silicon Valley làm tốt đến vậy và phần mềm là một ngành phi thường đến vậy.

Điều Thiel muốn để lại cho cả lớp: có những kiểu biện minh (rationalization) người ta đưa ra cho việc vì sao thứ này thành, thứ kia không, và anh nghĩ những biện minh đó luôn che khuất câu hỏi tạo ra X đô la giá trị và giữ lại Y phần trăm của X (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Biện minh của khoa học, như ta luôn được nghe, là các nhà khoa học không quan tâm tới kiếm tiền, họ làm vì lý do từ thiện, và bạn không phải nhà khoa học giỏi nếu bị tiền thúc đẩy. Thiel nói anh thậm chí không bảo rằng người ta lúc nào cũng nên bị tiền thúc đẩy hay gì đó tương tự. Nhưng theo anh (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), ta nên phê phán hơn một chút với nó như một lời biện minh, và nên hỏi: đây có phải lời biện minh để che đi sự thật rằng Y bằng 0%, rằng các nhà khoa học đang ở trong một thế giới nơi mọi đổi mới về cơ bản bị cạnh tranh làm tiêu tan và họ không giữ được chút nào trực tiếp?

Còn sự bóp méo kiểu phần mềm thường xảy ra vì người ta kiếm được những gia tài khổng lồ từ phần mềm, nên ta suy ra đây là thứ có giá trị nhất đang được làm trên đời, hết. Nếu người ở Twitter kiếm được hàng tỷ đô la, ắt hẳn Twitter đáng giá hơn bất cứ thứ gì Einstein đã làm. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), điều mà kiểu biện minh đó có xu hướng che đi, một lần nữa, là X và Y là hai biến độc lập: có những doanh nghiệp giữ được nhiều phần của X, có những doanh nghiệp không.

Nên anh nghĩ lịch sử đổi mới là một lịch sử mà kinh tế học vi mô, cấu trúc của các ngành, có ý nghĩa cực kỳ lớn. Có câu chuyện rằng một số người kiếm được gia tài khổng lồ vì họ ở trong những ngành có cấu trúc đúng, còn người khác chẳng kiếm được gì vì họ ở trong những thứ rất cạnh tranh, và theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), ta không nên cứ thế mà biện minh cho nó. Anh nghĩ điều này đáng được hiểu rõ hơn.

15. Tâm lý của cạnh tranh

Cuối cùng, Thiel quay lại chủ đề bao trùm của buổi nói chuyện, ý "competition is for losers". Anh nói (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017) đây luôn là một cách đặt tiêu đề khiêu khích, vì ta luôn nghĩ kẻ thua cuộc là những người không giỏi cạnh tranh: những người chạy chậm trong đội điền kinh hồi trung học, hay làm bài thi chuẩn hoá kém hơn một chút và không vào được đúng trường. Ta luôn nghĩ kẻ thua cuộc là người không cạnh tranh nổi.

Anh muốn cả lớp thật sự nghĩ lại và định giá lại điều này, và cân nhắc liệu có khả năng chính bản thân cạnh tranh mới là thứ có vấn đề (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Không chỉ là ta không hiểu sự phân đôi độc quyền và cạnh tranh về mặt trí tuệ. Anh đã nói vì sao ta không hiểu nó về mặt trí tuệ: vì người ta nói dối về nó, nó bị bóp méo, lịch sử đổi mới biện minh cho những gì đang xảy ra theo đủ kiểu rất, rất kỳ lạ.

Nhưng theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), đó còn hơn một điểm mù trí tuệ; đó cũng là một điểm mù tâm lý, nơi ta thấy mình rất, rất bị cạnh tranh thu hút dưới hình thức này hay hình thức khác. Ta thấy yên tâm nếu người khác làm những việc đó. Slide "Mimetic preferences" là hình một hàng người đội mũ quả dưa đứng trên mép vực, một người đang bước ra ngoài và một người đã rơi xuống. Từ "ape" ngay từ thời Shakespeare đã vừa có nghĩa là loài linh trưởng vừa có nghĩa là bắt chước. Có điều gì đó trong bản chất con người mang tính bắt chước (mimetic) rất sâu: như khỉ, như cừu, như chuột lemming, như bầy đàn. Anh nói đó là một điều rất, rất có vấn đề mà ta cần luôn nghĩ cho thấu và cố vượt qua.

Luôn có câu hỏi về cạnh tranh như một hình thức xác nhận (validation): ta lao vào những thứ mà rất nhiều người khác cũng lao vào. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), đó không phải trí tuệ đám đông. Không phải khi rất nhiều người cùng cố làm một việc thì đó là bằng chứng việc ấy có giá trị; anh nghĩ khi rất nhiều người cùng cố làm một việc, đó thường là bằng chứng của sự điên rồ.

Slide Competition as validation với bốn mục education, career paths, investments, business decisions và các hình minh hoạ
Slide "Competition as validation" (slide trong video đăng ngày 22/03/2017): bốn mục education, career paths, investments, business decisions, minh hoạ bằng chữ S của Stanford, vòng tròn Olympic, biển Hollywood, bốn chiếc điện thoại gắn thiết bị nhỏ phía trên và logo Goldman Sachs.

Ví dụ của Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017): mỗi năm có 20.000 người chuyển tới Los Angeles để thành ngôi sao điện ảnh, và khoảng 20 người trong số đó thành công. Anh nghĩ Thế vận hội khá hơn một chút vì bạn có thể nhận ra khá nhanh mình có giỏi hay không, nên tổn thất vô ích (deadweight loss) cho xã hội ít hơn một chút.

Về trải nghiệm giáo dục trước khi vào Stanford, luôn có một cách mô tả là không cạnh tranh. Thiel nói anh nghĩ phần lớn người trong phòng hồi đó có súng máy, trong khi cạnh tranh với những người cầm cung tên, nên hồi trung học cơ sở và trung học thì đó không hẳn là một cuộc cạnh tranh ngang ngửa. Nhưng luôn có câu hỏi: giải đấu này có còn hợp lý khi bạn tiếp tục đi tiếp không? Nếu người ta học tiếp cao học hay sau tiến sĩ, liệu cường độ cạnh tranh có thật sự hợp lý? (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017)

Có câu kinh điển của Henry Kissinger mô tả các đồng nghiệp giảng viên ở Harvard: các trận chiến khốc liệt đến thế vì cái được mất quá nhỏ, một mô tả về giới học thuật. Ở một mức, bạn nghĩ đây là mô tả của sự điên rồ: sao người ta lại đánh nhau dữ dội khi cái được mất nhỏ như vậy? Nhưng theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), đó cũng đơn giản là hệ quả của logic tình huống. Khi rất khó tạo khác biệt với người khác, khi khác biệt khách quan thật sự nhỏ, bạn phải cạnh tranh dữ dội để giữ một khác biệt nào đó, thứ thường mang tính tưởng tượng nhiều hơn là thật.

16. Câu chuyện của chính Thiel và cánh cổng rộng không ai đi

Thiel kể (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017) một phiên bản cá nhân của chuyện này, về việc anh từng đi trên một đường ray cực kỳ định sẵn. Trong kỷ yếu năm lớp tám của anh, một người bạn viết: "Tớ biết bốn năm nữa cậu sẽ vào Stanford". Bốn năm sau, cuối trung học, anh vào Stanford, rồi Stanford Law School, rồi làm ở một hãng luật lớn ở New York, nơi nhìn từ ngoài vào thì ai cũng muốn vào, còn ở bên trong thì ai cũng muốn ra.

Theo lời Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), đó là một động lực rất kỳ lạ. Sau khi nhận ra đây có lẽ không phải ý hay, anh nghỉ việc sau bảy tháng ba ngày. Một người ở cuối hành lang nói với anh: "Thật yên tâm khi thấy anh đi, Peter. Tôi không hề biết là có thể trốn khỏi Alcatraz." Thiel nói, dĩ nhiên, tất cả những gì cần làm là đi ra cửa trước và không quay lại. Nhưng bản sắc của người ta gắn chặt vào việc thắng những cuộc cạnh tranh này tới mức họ bằng cách nào đó đánh mất tầm nhìn về điều gì là quan trọng, điều gì có giá trị.

cánh cửa nhỏai cũng cố chen qua cánh cổng rộng không ai đi đi vòng qua góc
Hình 16.1Lời khuyên của Thiel trong video đăng ngày 22/03/2017: đừng lúc nào cũng đi qua cánh cửa nhỏ mà ai cũng cố chen qua, hãy thử đi vòng qua góc tới cánh cổng rộng không ai đi.

Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), cạnh tranh có làm bạn giỏi hơn ở thứ bạn đang cạnh tranh. Vì khi cạnh tranh, bạn so mình với những người xung quanh, bạn tìm cách đánh bại người bên cạnh, tìm cách làm tốt hơn một chút ở thứ họ đang làm, và bạn sẽ giỏi hơn ở thứ đó. Anh nói anh không chất vấn điều đó, không phủ nhận điều đó.

Nhưng nó thường đi kèm một cái giá rất lớn: bạn thôi đặt ra những câu hỏi lớn hơn về điều gì thật sự quan trọng, thật sự có giá trị. Lời khuyên của Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017): đừng lúc nào cũng đi qua cánh cửa bé xíu mà ai cũng đang cố chen qua; có thể hãy đi vòng qua góc và đi qua cánh cổng rộng lớn mà không ai đi. Anh cảm ơn cả lớp.

17. Hỏi đáp: thị trường thật, Google, Palantir và lean startup

Sau lời cảm ơn, có người hỏi có muốn nhận vài câu hỏi không, và câu trả lời là có, vì còn vài phút (video đăng ngày 22/03/2017).

Câu hỏi đầu tiên của một sinh viên (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017): như Thiel nói lúc trước, độc quyền và cạnh tranh thường trông giống nhau vì những câu chuyện người ta kể, hay những câu chuyện ta tự kể với mình. Anh có cách nào để dễ dàng phân biệt khi nhìn vào một ý tưởng hay đánh giá ý tưởng của chính mình không?

Thiel trả lời (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017): câu hỏi anh luôn cố tập trung vào là thị trường thực tế là gì. Không phải câu chuyện về thị trường là gì, vì bạn luôn có thể kể một câu chuyện hư cấu về một thị trường lớn hơn nhiều hay nhỏ hơn nhiều, mà là thị trường khách quan thật sự là gì. Bạn luôn cố tìm ra điều đó, và nhận ra rằng người ta có động lực mạnh để bóp méo những thứ này.

Một sinh viên khác hỏi những đặc điểm độc quyền nào trong số anh vừa nêu áp dụng cho một công ty như Google. Thiel trả lời (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017): Google có network effect với mạng quảng cáo (ad network). Họ có công nghệ độc quyền cho họ lợi thế ban đầu, vì có thuật toán PageRank, tốt hơn một bậc độ lớn so với mọi công cụ tìm kiếm khác. Có lợi thế quy mô vì phải lưu trữ tất cả các trang web khác nhau. Và tới thời điểm đó thì có thương hiệu. Vậy Google có cả bốn. Có lẽ phần công nghệ độc quyền tới thời điểm đó đã yếu đi phần nào, nhưng chắc chắn nó đã có cả bốn, và có lẽ là ba rưỡi trên bốn vào lúc đó.

Một sinh viên hỏi lý thuyết này áp dụng thế nào cho Palantir, kèm một câu hỏi thứ hai mà Thiel phải hỏi lại; sinh viên nhắc tới iPhone. Thiel trả lời phần sau trước: đó là một nhóm công ty làm những hệ thống thanh toán bắt chước nhau (copycat) trên điện thoại di động. Có Square, có PayPal. Chúng chỉ có hình dạng khác nhau, đó là cách chúng tạo khác biệt: một cái hình tam giác, một cái hình vuông. Và có lẽ tới một lúc nào đó lũ khỉ sẽ hết hình dạng để dùng, hay đại loại vậy (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Về Palantir, Thiel kể anh và nhóm bắt đầu tập trung vào cộng đồng tình báo (intelligence community), một thị trường con nhỏ. Palantir có một công nghệ độc quyền dùng một cách tiếp cận rất, rất khác, tập trung vào sự kết hợp giữa con người và máy tính (human computer synthesis) thay vì thay thế con người, thứ mà anh nghĩ là mô thức thống trị (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Anh nói có cả một loạt điều có thể nói về cách tiếp cận thị trường và về công nghệ độc quyền ở đó.

Câu hỏi tiếp theo của một sinh viên (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017): ta có phương pháp design thinking và tư duy lean startup, được dùng để giảm rủi ro bằng cách không làm ra những thứ người ta không muốn. Nhưng làm sao để những nhà đổi mới trẻ có cảm hứng tạo ra những hệ thống phức tạp tồn tại được qua thời gian? Có người đề nghị nhắc lại câu hỏi, và Thiel tóm lại: câu hỏi là anh nghĩ gì về lean startup, kiểu tư duy lặp lại (iterative) khi bạn lấy feedback từ người dùng.

Thiel nói cá nhân anh khá hoài nghi về toàn bộ phương pháp lean startup (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017). Anh nghĩ những công ty thật sự vĩ đại đã làm một thứ gì đó giống một bước cải tiến nhảy vọt (quantum improvement) hơn, thứ thật sự khiến chúng khác biệt với mọi người khác. Chúng thường không làm những cuộc khảo sát khách hàng quy mô lớn. Những người điều hành các công ty này đôi khi, không phải lúc nào cũng vậy, có những dạng Asperger nhẹ, nên họ thực ra không bị ảnh hưởng mấy, không dễ bị chùn bước bởi những gì người khác nghĩ hay bảo họ làm.

Nên theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), ta đang quá tập trung vào lặp lại (iteration) như một phương thức, và chưa đủ tập trung vào việc cố có một kiểu kết nối ngoại cảm (ESP link) ảo với công chúng và tự mình nghĩ ra.

18. Hỏi đáp: first mover, Goldman Sachs và cạnh tranh như một sự xác nhận

Về câu hỏi rủi ro, Thiel nghĩ đó luôn là một câu hỏi rất khó, vì anh nghĩ thường thì bạn không có đủ thời gian để thật sự giảm rủi ro. Nếu bạn dành đủ thời gian để tìm ra người ta muốn gì, thường thì bạn đã lỡ chuyến tàu rồi. Và dĩ nhiên luôn có rủi ro làm một việc không mấy quan trọng hay ý nghĩa (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Bạn có thể nói con đường trường luật là một con đường rủi ro thấp theo một góc nhìn. Nhưng theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), nó vẫn có thể là một con đường rủi ro rất cao, theo nghĩa bạn có rủi ro cao là không làm được điều gì ý nghĩa với cuộc đời mình. Nên ta phải nghĩ về rủi ro theo những cách rất phức tạp; anh nghĩ rủi ro là một khái niệm rất phức tạp.

Một sinh viên hỏi (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017): anh nói về lợi thế của last mover, nhưng như vậy chẳng phải ngụ ý là đã có cạnh tranh ngay từ đầu trên bàn cờ sao?

Thiel trả lời (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017) rằng luôn có chuyện thuật ngữ ở đây. Có những hạng mục mà người ta gom các công ty lại với nhau. Anh nói các doanh nghiệp độc quyền, về thực chất, theo một nghĩa nào đó thật sự là một first mover lớn. Google không phải công cụ tìm kiếm đầu tiên, đã có những công cụ khác trước đó. Nhưng trên một chiều, họ tốt hơn mọi người khác một cách vượt trội: họ là công cụ đầu tiên có PageRank, với một cách tiếp cận tự động.

Facebook không phải trang mạng xã hội đầu tiên. Thiel kể Reid Hoffman, bạn anh, đã lập một trang vào năm 1997, gọi là SocialNet, nên họ đã có chữ "social networking" trong tên công ty bảy năm trước Facebook. Ý tưởng của họ là đó sẽ là một không gian mạng ảo, nơi tôi có thể là một con chó và bạn là một con mèo, và ta có đủ loại quy tắc về cách tương tác với nhau trong thực tại ảo thay thế đó. Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), Facebook là trang đầu tiên có danh tính thật (real identity). Anh nói anh hy vọng Facebook sẽ là trang mạng xã hội cuối cùng. Nó là trang đầu tiên trên một chiều rất quan trọng, dù người ta thường không nghĩ nó là trang đầu tiên vì họ gom tất cả những thứ này lại với nhau.

Còn thời gian cho một câu hỏi cuối. Một sinh viên hỏi (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017): giả sử về lý thuyết có một người làm ở Goldman Sachs ngay sau đại học, nghỉ sau sáu tháng và giờ đang học khoa học máy tính ở Stanford, anh khuyên nên nghĩ lại chuyện đó thế nào?

Thiel nói anh không giỏi mấy chuyện trị liệu tâm lý, nên anh không biết chắc cách giải quyết. Có những nghiên cứu rất kỳ lạ người ta làm về những người đi học trường kinh doanh. Có một nghiên cứu ở Harvard Business School, nơi có kiểu tính cách anh gọi là "anti-Asperger": những người siêu hướng ngoại, nhìn chung ít niềm tin chắc chắn, ít ý tưởng. Rồi có một môi trường nhà kính: bạn đặt tất cả những người này vào đó hai năm (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Cuối hai năm, theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), họ một cách có hệ thống, nhóm đông nhất một cách có hệ thống, rốt cuộc làm sai. Họ cố đuổi theo con sóng vừa qua. Năm 1989, ai ở Harvard cũng cố làm việc cho Mike Milken, một hay hai năm trước khi ông ta vào tù vì toàn bộ vụ trái phiếu rác (junk bond). Họ không bao giờ quan tâm tới Silicon Valley hay công nghệ, trừ giai đoạn 1999-2000, khi họ canh đúng thời điểm bong bóng dot-com lên đỉnh một cách hoàn hảo. Rồi 2005-2007 là nhà đất, private equity, những thứ như vậy.

Nên Thiel nghĩ xu hướng coi cạnh tranh như một sự xác nhận của chúng ta là rất sâu. Anh không nghĩ có công thức tâm lý dễ dàng nào để tránh nó, nên anh không biết nên khuyên kiểu trị liệu nào. Nhưng điểm khởi đầu đầu tiên của anh, thứ có lẽ chỉ đi được khoảng 10% quãng đường, là đừng bao giờ đánh giá thấp vấn đề này lớn tới mức nào (theo Thiel, bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017).

Ta luôn nghĩ đây là thứ ảnh hưởng tới người khác. Thiel nói anh dễ dàng chỉ tay vào người ở trường kinh doanh, người ở Harvard hay người ở Phố Wall, nhưng anh nghĩ nó thực ra ảnh hưởng tới tất cả chúng ta ở một mức rất sâu. Ta luôn nghĩ quảng cáo là thứ có tác dụng với người khác: ai là những kẻ ngốc mắc bẫy mấy quảng cáo trên TV? Theo Thiel (bài giảng năm 2014, video đăng ngày 22/03/2017), rõ ràng chúng có tác dụng ở một mức nào đó, và chúng có tác dụng ở một mức đáng lo ngại với tất cả chúng ta, và đó là điều tất cả chúng ta nên cố vượt qua. Anh cảm ơn mọi người.

Nguồn và liên kết 5 nguồn

  1. Tên gốc: Competition is for Losers with Peter Thiel (How to Start a Startup 2014: 5)
  2. Sự kiện: YouTube
  3. Video gốc: https://www.youtube.com/watch?v=3Fx5Q8xGU8k youtube.com
  4. Kênh YouTube Y Combinator (Peter Thiel): youtube.com/channel/UCcefcZRL2oaA_uBNeo5UOWg youtube.com
  5. José Raúl Capablanca, nhà vô địch cờ vua thế giới mà Thiel trích câu nói về tàn cuộc (Wikipedia, đọc ngày 02/11/2026): en.wikipedia.org/wiki/José_Raúl_Capablanca en.wikipedia.org